Ghi từ cuộc gặp mặt Đại đội 2 Anh hùng

Thấm thoắt đã 42 mùa xuân đi qua, trong trang sử vàng chói lọi Đại thắng mùa xuân năm 1975 của Dân tộc vẫn còn đó biết bao sự hy sinh, cống hiến của những người con đất Việt. Đại đội 2 của Thị đội Hội An năm xưa đã chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, góp công vào sự nghiệp giải phóng quê hương, thống nhất đất nước, vinh dự được Nhà nước phong tặng đơn vị Anh hùng LLVTND.

Trong thời kỳ chiến tranh, Hội An là một trong những chiến trường trọng điểm và ác liệt. Do yêu cầu nhiệm vụ tác chiến và phát triển lực lượng trên chiến trường Hội An, năm 1967, Bộ Tư lệnh Mặt trận 4 Quảng Đà và Ban Thường vụ Thị ủy cùng Ban chỉ huy Thị đội Hội An quyết định tách Trung đội 2 của Đại đội bộ đội địa phương để thành lập đơn vị quyết tử gồm 32 cán bộ chiến sỹ. Sau khi ra mắt và tuyên thệ, đơn vị được giao bám chặt địa bàn đánh địch bằng chiến thuật cải trang lính ngụy, giệt ác trừ gian, bí mật đánh sâu vào lòng địch, tiêu diệt các cơ quan đầu não, phá hủy kho tàng và phương tiện chiến tranh của địch tại các mục tiêu quan trọng như cơ quan Quốc dân Đảng, trung tâm chiêu hồi, các đoàn bình định của địch đóng ở Nam Diêu, Ngọc Thành, Miếu Ông Cọp…

Trong những tháng ngày toàn quân, toàn dân ta sục sôi chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, lực lượng vũ trang thị xã được tăng cường về quân số và trang bị. Ban Thường vụ Thị ủy và Ban chỉ huy Thị đội quyết định đổi tên đơn vị Quyết tử thành Đại đội 2 (phiên hiệu C2), với tổng số 35 đồng chí, sau đó đơn vị được tăng cường, bổ sung thêm lên 92, rồi 120 đồng chí. Ban Thường vụ Thị ủy và Ban chỉ huy Thị đội chỉ đạo cho Đại đội 2 vừa khẩn trương huấn luyện, vừa thực hành tác chiến để nhanh chóng nâng cao khả năng chiến đấu. Mệnh lệnh cụ thể được đưa ra là sử dụng chiến thuật đặc công, bí mật, bất ngờ, luồn sâu lót sát, đánh từ trong đánh ra, dùng ít đánh nhiều, chia thành nhiều mũi bao vây, chia cắt đội hình địch để lực lượng của ta ít thương vong. Với mệnh lệnh đánh địch như vậy, sau 3 tháng huấn luyện, mỗi cán bộ chiến sỹ của Đại đội 2 trực tiếp xung trận, mưu trí chiến đấu với kẻ thù.

Cựu chiến binh Nguyễn Thị Lợi từng là một nữ chiến sỹ tham gia Đại đội 2 khi vừa tròn 18 tuổi. Sau 3 tháng huấn luyện, bà được ra trận chiến đấu cùng đồng chí đồng đội, còn được phân công làm giao liên chuyển đạn, chuyển lương thực và đêm đêm vừa rà mìn, vừa dẫn quân đi đánh trận. Nói về đại đội của mình, bà Lợi bộc bạch:

“Tôi thấy đơn vị này là đơn vị truyền thống nhất của thị xã Hội An. Rất là dũng cảm. Các đồng chí không sợ hy sinh gian khổ, lăn lộn ngoài chiến trường để giành lại độc lập, không nghĩ gì đến chuyện sống chết. Họ chỉ làm cho hoàn thành nhiệm vụ của Đảng vậy thôi, không nghĩ chuyện riêng tư. Nếu họ mà nghĩ đến chuyện riêng tư thì không bao giờ hoàn thành nhiệm vụ của Đảng”.

Xuyên suốt các chiến dịch lớn trong các năm Mậu Thân 1968, Kỷ Dậu 1969 cho đến thời điểm sau khi ký kết Hiệp định Pari, rồi tiến tới ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, Đại đội 2 đã lập nhiều chiến công vang dội trong các trận đánh oanh liệt, kiên cường. Điển hình như trong trận mở đầu cho chiến dịch Xuân 1972, Đại đội 2 tấn công cứ điểm thôn 5 xã Cẩm Thanh, diệt gọn 1 trung đội nghĩa quân, san bằng các tháp canh, lô cốt. Tiếp đó, Thị ủy Hội An quyết định chọn Phước Trạch làm điểm tấn công trọng yếu nhằm giáng một đòn chí mạng vào hệ thống bố phòng của địch. Chiến thắng cầu Phước Trạch là một đòn bí hiểm, táo bạo, bất ngờ, đánh đúng sào huyệt của địch, phá tan một hệ thống kèm kẹp của cả lực lượng ngụy quân ngụy quyền ở một địa bàn xung yếu phía Đông Bắc thị xã. Chiến công này làm nức lòng cán bộ chiến sỹ và nhân dân Hội An, lan tỏa ra các chiến trường khác trong và ngoài tỉnh, được báo cáo điển hình tại Hội nghị toàn quân khu V. Lúc đó, Đại đội 2 bộ đội địa phương Hội An được cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng 2.

Đông đảo các chiến sỹ Đại đội 2 trong ngày gặp mặt kỷ niệm 50 năm thành lập Đại đội- Ảnh: Lê Hiền

Trong suốt chặng đường chiến đấu đến ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, nhiều chiến sỹ của Đại đội 2 anh dũng hy sinh. Lực lượng thường xuyên được bổ sung từ du kích các xã (khi đó gọi tắt là K). Cũng như nhiều đồng đội khác, cựu chiến binh Ngô Quang Ny, ở  khối Trường Lệ, phường Cẩm Châu trở thành một chiến sỹ của Đại đội 2 trong hoàn cảnh như thế. Hồi tưởng lại những năm tháng chiến đấu của Đại đội, bằng tinh thần quả cảm của một người lính, ông Ny nói: “Quá trình chiến đấu của các chiến sỹ Đại đội 2, giờ mà nói tới quả là không hình dung được. Lúc đó cứ nghĩ rằng được chiến đấu là vui rồi, không có nghĩ đến chết sống gì hết, không nghĩ chi là thôi để hòa bình ngày mai rồi mình về. Chỉ nghĩ rằng làm răng mà bám địch, đặt mìn, đi chiến đấu. Hoàn thành nhiệm vụ là vui lắm rồi, ngồi lại giỡn cười năm bảy anh em, tối ri chứ mai anh em hy sinh cũng có, chuyện bình thường. Đối với Đại đội 2 là rứa đó. Đến nay thì mấy chú về lại với địa phương thì anh em nào cũng có cái tâm hết, muốn hỗ trợ, giúp đỡ cho địa phương, mình làm được gì thì sẵn sàng làm. Vì mình luôn tâm niệm rằng đã là người lính phải tuyệt đối trung thành trước sau như một với Đảng. Trong chiến tranh đã sẵn sàng hy sinh xương máu, vì độc lập tự do thì sá gì thời bình này ta không bảo vệ thành quả cho tốt?”

Thực hiện theo quân lệnh của Bộ chỉ huy Mặt trận 4 Quảng Đà và Thị đội Hội An, ở nhiều thời điểm, Đại đại 2 mở đường máu tác chiến, thọc sâu đánh hiểm vào các vị trí phòng thủ của địch ở các xã vùng đông huyện Duy Xuyên, như Xuyên Tân, Xuyên Thái, Xuyên Quang nhằm thiết lập và nới rộng hành lang vùng giải phóng, tạo thế uy hiếp địch từ phía Nam thị xã Hội An. Khi quân địch thất trận ở các chiến dịch Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Tam Kỳ, chúng hoảng loạn chạy vào Hội An, co cụm cố thủ trong cơ quan đầu não tỉnh lỵ và quận lỵ Hiếu Nhơn, lâm vào tình trạng hỗn quan, hỗn quân. Thời cơ đến, 12 giờ trưa ngày 27 tháng 3 năm 1975, Ban Thường vụ Thị ủy họp cùng Ban Chỉ huy Thị đội thống nhất phát lệnh tổng tiến công và nổi dậy giải phóng quê hương. 3 giờ sáng ngày 28 tháng 3, các lực lượng vũ trang tấn công chiếm lĩnh các vị trí. Đến 6 giờ sáng cùng ngày, toàn bộ các vị trí của ngụy quân ngụy quyền bị quân ta chiếm giữ. Ủy ban khởi nghĩa tiến vào trung tâm thành phố, khẩn trương ban bố nhiều mệnh lệnh để bảo vệ các mục tiêu đã chiếm giữ, sẵn sàng đánh địch phản kích, ổn định tình hình xã hội.  Với thành tích đạt được, đại đội 2 được tặng dòng chữ vàng “Đánh mạnh, đánh giỏi, đánh trúng hậu cứ địch” và cờ “Trung dũng kiên cường, thọc sâu, đánh nhanh, diệt gọn”. Đặc biệt, Đại đội 2 bộ đội đặc công Hội An được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và có 6 cán bộ chiến sỹ của Đại đội cũng vinh dự được tặng thưởng danh hiệu này. Từ những chiến công vang dội, những đóng góp lớn lao của Đại đội 2 Thị đội Hội An trong thời chiến cũng như thời bình, Trung tá Nguyễn Văn An, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự TP nhìn nhận:  Về truyền thống của Đại đội 2 có thể nói là những chiến công hiển hách, được phong tặng đơn vị AHLLVT nhân dân. Điều đầu tiên có thể nói là người Hội An đã  sinh ra những người con anh hùng, sinh ra một đơn vị anh hùng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn hiện nay, Đại đội 2 cũng là gương để chúng ta phải phát huy. Đó là tinh thần đoàn kết, tinh thần chiến đấu, kháng chiến, đó là đánh giặc, chiến đấu, trong thời này đó là vượt khó. Đó là nêu cao tinh thần đồng đội,giúp đỡ người khó khăn và xây dựng cộng đồng xã hội. Hiện nay các chú các bác vẫn phát huy tốt vai trò những người trong kháng chiến, gương mẫu cho con cháu, thế hệ trẻ học tập noi theo. Đó là những việc rất đáng mừng.”

Có thể nói, sau 42 năm giải phóng, vùng đất Hội An vẫn mãi mãi tự hào bởi đã sinh ra những người con anh hùng, sát cánh với nhân dân, xả thân chiến đấu giành lại độc lập tự do, góp phần giải phóng quê hương, cùng với đồng bào, chiến sỹ cả nước làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước.

Lê Hiền

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *