Sản xuất sợi cao lầu thủ công ở gia đình cụ Trái

Cao lầu, món ăn độc đáo gắn liền với phố cổ Hội An. Du khách đến tham quan, thưởng thức ẩm thực Hội An đều không bỏ qua món ăn truyền thống, nổi tiếng này. Một trong những nguyên liệu chính làm nên món ăn này đó là sợi cao lầu. Gia đình cụ Trần Thị No còn có tên gọi là cụ Trái ở khối phốTrường Lệ phường Cẩm Châu là hộ gia đình lưu truyền, gìn giữ nghề truyền thống sản xuất sợi cao lầu bằng thủ công lâu nhất trên 200 năm tại Hội An. Tính đến nay đã có 4 thế nghệ làm nghề này. 

Sản phẩm làm ra của gia đình cụ Trái bày bán tại chợ Hội An- Ảnh: Hoàng Ngân

Theo các  thành viên của gia đình cụ Trái, để làm nên sợi cao lầu ngon đúng điệu gia truyền thì cần 3 nguyên liệu chính là gạo được trồng từ giống lúa Suyệt, nước trong (không có phèn) và tro cộng với sự tỉ mẫn qua nhiều công đoạn, trong đó khâu ngâm tro là khâu quan trọng nhất, quyết định chất lượng của sợi cao lầu.

Bước đầu tiên trong ngày là chọn gạo rồi vo sạch, ngâm gạo với nước trong, xong đem xay thành bột, đến 2 giờ khuya lóng lấy bột, bỏ vào thau lớn, bắt lên bếp củi khuấy đều, khi bột gần đặc thì hoà tro với nước, lóng lấy nước trong ở trên đổ vào khuấy đều cho đến khi bột đặc thì dích ra, xếp thành nhiều vỉ để vào nồi hấp 1 tiếng đồng hồ, tiếp đó đánh cho nhuyễn đem ra cán, quay thành sợi và hấp lại là cho ra thành phẩm sợi cao lầu.

Quy trình làm sợi cao lầu trải qua nhiều công đoạn như trên và tập trung  sản xuất vào giờ cao điểm là từ 4 đến 7 giờ sáng và cần từ 5 đến 6 lao động, mỗi người đảm trách một khâu. Ngoài các khâu như ngâm gạo, ngâm tro, chuyển sản phẩm đến bán món ăn cao lầu là do các thành viên trong nhà đảm nhiệm. Khâu tráng, hấp, quay sợi …do nhân công trong xóm tham gia.

Lao động vất vả, lợi nhuận thấp, mỗi người thu nhập từ 70 đến100 ngàn đồng/ngày nhưng bù lại đầu ra sản phẩm sợi cao lầu ổn định nên lao động trong nhà và chòm xóm luôn có việc làm quanh năm. Thời gian còn lại trong ngày  họ tham gia trồng quật cảnh, sản xuất lúa nâng cao thu nhập cho gia đình.

Con dâu cụ Trái, chị Nguyễn Thị Dỉnh, hiện là người quán xuyến nghề làm sợi cao lầu của gia đình chia sẻ, làm  nghề này khá vất vả, trải qua nhiều công đoạn cần sự tỉ mẫn của từng khâu mới cho ra thành phẩm sợi cao lầu đạt chất lượng.

Sản phẩm làm ra của gia đình  được cụ Trái bày bán tại chợ Hội An hơn 60 năm. Số còn lại con dâu cụ phân phối đến các điểm đặt hàng với giá bán sĩ 16 ngàn đồng/kg. Những điểm dùng sợi cao lầu của gia đình để làm nên món đặc sản cao lầu thu hút đông khách đó là Quán Cao Lầu Liên ở đường Thái Phiên, Cao lầu Vạn Lộc (cạnh Hội Quán Phúc Kiến), hai quán Cao Lầu chay ở kiệt Sica và hai nhà hàng tại TP Đà Nẵng.

Trước đây, khi du lịch Hội An chưa phát triển, gia đình cụ sản xuất mỗi ngày từ 25 đến 30 kg sợi cao lầu. Từ khi Hội An được nhiều khách thập phương biết đến,nhu cầu thưởng thức ẩm thực Hội An, đặc biệt món cao lầu Hội An ngày càng nhiều. Vì vậy, việc sản xuất sợi mì của gia đình cụ phát triển mạnh, đáp ứng đủ nguồn cung cấp cho khách hàng. Trung bình mỗi ngày từ 100 kg gạo cho ra thành phẩm được 150 kg sợi cao lầu tươi.  

Ngoài việc sản xuất sợi cao lầu tươi, tranh thủ thời tiết thuận lợi gia đình cụ Trái phơi sợi làm cao lầu khô. Lúc nào trong nhà cũng dự trữ đủ lượng, để bán cho bạn hàng mua mang đi làm quà cho người thân ở các nơi trong và ngoài nước.

Trò chuyện tìm hiểu nghề gia truyền của cụ Trái, tất cả các thành viên trong gia đình đều tâm sự, nghề này rất vất vả, trong quy trình chế biến có nhiều khâu khó, mặc dù  thu nhập còn thấp so với các ngành nghề khác nhưng hiện tại cả gia đình góp sức gìn giữ .

Cháu nội cụ Trái năm học này bước vào lớp 11, sau giờ tan trường về nhà giúp gia đình đảm trách một số công đoạn, tỏ ra rất thích thú. Và em cũng chia sẻ dù nghề này thu nhập thấp nhưng em sẽ cố gắng gìn giữ nghề gia truyền, góp phần làm nên  món ăn nổi tiếng cao lầu của Hội An.

Cô cháu gái của cụ làm nghề hướng dẫn viên du lịch cũng thường đưa khách về trò chuyện cùng cụ Trái hay tham quan, thưởng lãm qui trình chế biến sợi cao lầu bằng các công đoạn thủ công của gia đình.

Gia đình cụ Trái thật sự hạnh phúc với nghề gia truyền. Hiện  gia đình cụ là một trong số rất ít gia đình đã có được những người con, người cháu biết trân quí, lưu giữ, truyền bá nghề truyền thống của gia đình đến mọi người, góp phần tạo  nên hương vị món ăn cao lầu độc đáo của phố cổ Hội An. Bởi hiện nay việc gìn giữ, nhân cấy nghề truyền thống bằng thủ công là một việc làm không dễ chút nào. Vấn đề này không chỉ là nỗi lo của chính các gia đình có nghề mà đang là thách thức của các ngành chức năng . 

Hoàng Ngân

Phố mới ven sông Hoài

Trong ký ức tuổi học trò của tôi, An Hội ngày ấy tuy mang tên là khối phố 4 thuộc phường Minh An nhưng thực tế chỉ là một bãi cát nghèo, nằm côi cút phía bờ nam sông Hoài. Người dân các xã phường khác và cả người ở đây thường nói đùa: đó là khối mà “nhà không số, phố không tên”. Đường sá thì nhếch nhác, hễ mưa xuống là đọng nước, đi bộ mà bùn nước cũng văng đến tận lưng. Nhà cửa lụp xụp, tạm bợ với đủ loại vật liệu che chắn như tôn, ván, tranh, tre. Từ bên phố nhìn qua, An Hội chỉ là một làng quê nghèo khó với cảnh ghe thuyền lênh đênh của xóm vạn chài lam lũ, bao bọc xung quanh là những vạt lát (cói), bãi cỏ rậm rạp, khuất lấp…

Nhưng hôm nay, An Hội và Đồng Hiệp (tên 2 khối phố mới của khối phố 4) hiện ra với vẻ đẹp riêng biệt mà ở Hội An không nơi nào có được: một khu phố nằm đối diện với đô thị cổ – di sản văn hóa thế giới, chỉ cách nhau một quãng sông nhỏ luôn lộng gió và sáng đẹp hẳn lên mỗi khi đêm về. Toàn bộ hệ thống đường đã được bê tông phẳng phiu, sáng lóa. Điện phục vụ sinh hoạt của nhân dân và chiếu sáng công cộng được lắp đặt ở tất cả các tuyến đường, kéo đến từng hộ gia đình, thắp lên niềm tin cho mọi nhà mọi người trong cuộc sống mới. Số nhà, tên đường mới đã được thay đồng loạt, góp phần tạo ra diện mạo mới đầy sinh khí và trẻ trung hơn. Con đường Cộng Đồng chật hẹp, gập ghềnh ngày nào giờ được mở ra quang rạng, thoáng rộng mang tên Nguyễn Phúc Chu – người có công lớn trong quá trình hình thành thương cảng Hội An với những chính sách cởi mở, thông thoáng. Và dù chỉ mới thôi nhưng nó đã trở thành con đường rộn rịp, bắt mắt nhất đối với du khách muôn phương khi đến tham quan, thưởng lãm ở Hội An. Khu vườn tượng điêu khắc quốc tế được sắp đặt ven sông trên con đường này càng làm tôn lên vẻ đẹp sang trọng, quý phái cho bộ mặt khu phố. Đến đây, mọi người có thể nghe cuộc trò chuyện âm thầm về cảm quan nghệ thuật cùng tôn vinh cái đẹp bởi khát vọng sống đẹp giữa thiên nhiên với con người giữa lòng di sản của nhân loại. Trong những năm qua, với sự đầu tư khoảng hơn 30 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp hơn 13 tỷ đồng để tạo cảnh quan cho khu bãi bồi Đồng Hiệp, cảnh quan khu phía nam Quảng trường Sông Hoài, làm cầu An Hội, mở đường Nguyễn Hoàng và các tuyến đường ở An Hội… chính quyền thành phố và phường Minh An đã khoác thêm cho khu phố này một chiếc áo mới tinh tươm, sắc sảo. Không gian khu phố vì vậy càng trở nên thoáng mát, hữu tình sánh cùng Đô thị cổ và Chùa Cầu bên bờ đối diện sông Hoài…

Hội đèn lồng Hội An trưng bày tại vườn tượng An Hội- Ảnh: Đỗ Huấn

Về với An Hội và Đồng Hiệp những ngày này, chúng ta không chỉ cảm nhận được sự đổi thay về diện mạo của một khu phố mới mà sâu sắc và ấn tượng đáng nhớ hơn là sự đổi đời của con người. Ông Tăng Ngọc Cường (ở khối Đồng Hiệp) cho biết: “Tôi là người ở Cẩm Phô, qua ở đây từ năm 1987. Tuy mới nhưng tôi cũng kịp tận mắt chứng kiến những đổi thay lớn lao, những chuyển biến về mọi mặt của đời sống nhân dân An Hội nói chung và xóm vạn chài nói riêng!”. Xóm vạn chài ngày ấy với những câu chuyện dở khóc dở cười về thân phận lênh đênh, phó mặc theo những con thuyền, dòng nước của bao người như đẻ nhiều đến mức không biết hết mặt con, làm khai tử rồi mới làm khai sinh cho những đứa trẻ xấu số, nhiều người không biết đọc chữ, chẳng biết ký tên… Sau 3 năm kiên trì vận động (1986-1988) đã hoàn thành định cư ổn định trên bờ. Cảnh cứu đói hàng chục tấn gạo mỗi khi đông về tết đến giờ đã lùi xa. Hơn 550 hộ gia đình của 2 khối phố bây giờ không còn hộ nào đói hay nghèo. Từ khi triển khai dự án qui hoạch phát triển An Hội thành khu đô thị du lịch, đến nay số hộ xây nhà kiên cố tăng nhanh trông thấy, bình quân mỗi năm có vài chục hộ. Đến nay hầu như hộ gia đình nào cũng được ở nhà bền vững. Trẻ em trong độ tuổi đều được đến trường, trình độ dân trí được nâng lên đáng kể, đời sống tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Khối phố nào cũng có khu thiết chế văn hóa làm nơi sinh hoạt, hội họp của các đoàn thể nhân dân. Số lượng xe gắn máy, các phương tiện nghe nhìn, tiện nghi sinh hoạt đắt tiền được sắm mới trong các hộ gia đình tăng lên nhanh chóng.

Du khách thưởng ngoạn tại Vườn tượng An Hội- Ảnh: Đỗ Huấn

Sự đầu tư phát triển đúng hướng của thành phố và phường Minh An không chỉ tạo ra những đổi thay về cơ sở hạ tầng mà còn làm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế và lao động ở khu dân cư. Chỉ trong một thời gian ngắn mà số hộ gia đình làm nghề dịch vụ thương mại du lịch và TTCN đã tăng lên hơn 50%… An Hội và Đồng Hiệp trở thành nơi cung cấp nhiều lao động trẻ, có khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ làm các nghề dịch vụ cho các cơ sở kinh doanh trên địa bàn thành phố.

Trải qua 40 năm, không ai có thể phủ nhận những đổi thay sâu sắc và rõ nét của khu phố bên bờ nam sông Hoài này. Đêm đêm, An Hội và Đồng Hiệp luôn sáng rỡ ánh đèn của những quán bar, nhà hàng và dập dìu từng dòng người tản bộ, tận hưởng làn gió mát ven sông Hoài. Và phố mới càng trở nên lung linh huyền ảo trong những đêm hội hè, lễ lộc… được tổ chức thường xuyên ở thành phố “Hội An – hội thủy, hội nhân, hội văn”.

Đỗ Huấn

Ghe bầu xứ Quảng

Ghe bầu là những chiếc “thuyền bay trên biển”, làm nên sự sôi động cho ngành thương mại của cha ông ở Hội An – xứ Quảng thuở trước…

1. Không phải ngẫu nhiên mà tại Bảo tàng Gốm sứ mậu dịch Hội An (số 80 Trần Phú), ngay trước cửa ra vào, du khách đã có thể nhìn thấy mô hình chiếc ghe bầu do nghệ nhân Huỳnh Ry – Kim Bồng thực hiện.

Tại bảo tàng đang trưng bày gần 500 hiện vật gốm sứ mậu dịch có nguồn gốc Trung Cận Đông, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam…, niên đại từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIX. Hầu hết hiện vật là minh chứng cho vai trò quan trọng của thương cảng Hội An trong mạng lưới mậu dịch gốm sứ hay “con đường tơ lụa” trên biển vào các thế kỷ trước, khi Hội An còn là tụ điểm giao lưu thương mại của các thương thuyền Đông – Tây Á – Âu.

Ông Trần Văn An – Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An cho biết: “Ghe bầu là biểu tượng sinh động một thời phồn thịnh của đô thị thương cảng cổ xưa. Theo các nhà nghiên cứu, ngoài các bến dọc dài bãi biển miền Trung, những cánh buồm no gió của ghe bầu đã “bay” từ Kẻ Chợ, Thăng Long ở Bắc kỳ; Đồng Nai, Gia Định ở Nam kỳ đến tận Nam Vang – Campuchia và các quốc gia khu vực Đông Nam Á”.

Đến Hội An vào thế kỷ XVII, Thích Đại Sán, một thiền sư Trung Hoa đã mô tả thương cảng Hội An với “cột buồm như rừng tên xúm xít”. Còn Nguyễn Tuân cũng đã khắc họa vào đầu thế kỷ XX rằng: “Trên mặt sông thực là một cái rừng cột thuyền buồm, mành ghe chi chít dây lèo buồm, dây thừng…”.

Những năm 1930 – 1940, người ta vẫn thấy từng đoàn ghe bầu của các vạn Thanh Châu, Cẩm Phô, Thanh Hà, Sơn Phô, Bàn Thạch, Duy Vinh… giong buồm ra khơi để thực hiện những chuyến hải trình dài ngày. Hàng hóa là sản vật tại chỗ như cau, quế, nón, đường, đồ tre nan, gốm, lâm thổ sản, hải sản… và chở về gạo, muối, lá đệm, đồ sứ… Theo tư liệu hồi cố, vào những năm này, các vạn ghe bầu Hội An có hơn 120 chiếc với trọng tải từ 40 đến 100 tấn mỗi ghe, bình quân mỗi năm, đoàn “thuyền bay” này đã chở gần 34 nghìn tấn hàng hóa các loại.

Đạt được “kỳ tích” đó là nhờ ghe bầu thuộc loại thuyền buồm, đi lại bằng sức gió là chính. Dáng bụng bầu tròn chứa được nhiều hàng hóa. Lái và mũi đều cơ động dễ dàng. Ghe có ba cột với cánh buồm lớn đơn giản, cuốn lại hoặc giương lên đều dễ. Đặc biệt, một tính năng “vượt trội” mà các loại thuyền của phương Tây và cả các nước trong khu vực “không thể sánh được” là khả năng chạy ngược gió nhờ kỹ thuật “chạy vát”.

2. Những làng nghề mộc thủ công truyền thống nổi tiếng nằm cạnh phố cổ Hội An như Trà Quân, Trà Nhiêu, Kim Bồng… từng một thời rộn ràng với các trại đóng ghe bầu.

Thuyền đóng theo mô hình ghe bầu phục vụ du lịch ở Hội An- Ảnh: Quốc Hải

Hôm nay, về lại Kim Bồng, những chiếc “thuyền bay” ấy không còn được đóng nữa nhưng với những người thợ tuổi đời còn khá trẻ, niềm tự hào về nghề của cha ông vẫn còn như nguyên vẹn. Anh Phan Nhu – một chủ cơ sở đóng sửa tàu thuyền nói: “Nhiều kỹ thuật đóng thuyền bây giờ vẫn được chúng tôi kế tục. Dù máy móc bây giờ hiện đại, làm nhanh hơn nhưng kỹ thuật thì không thể khác được. Tôi nghe cha nói làng mình nổi danh từ trước cũng nhờ đóng ghe bầu”. Còn với người thợ cả Đỗ Tài, gần 70 năm gắn bó với nghề đóng sửa tàu thuyền, kinh nghiệm đóng ghe bầu của các thế hệ nghệ nhân đi trước giờ chỉ còn là ký ức xa mờ nhưng vô cùng quý giá. Ông Tài cho biết: “Hồi nớ làng trên, làng dưới, có đến 4 trại đóng tàu với cả trăm thợ ngày đêm ghè đục. Hồi nhỏ, trèo lên cột khoan lỗ dây kéo buồm, tới trưa gió mát quá tôi nằm ngủ luôn trên nớ. Chừ cái nhớ, cái quên chứ nội chuyện khoan cái lỗ bằng khoan tay thôi cũng mất mấy ngày”.

Thời gian chừng đã khiến bao lớp người không khỏi ưu tư. Và khi hết vai trò lịch sử, những chiếc ghe bầu phóng dật cùng những phận người trên biển thuở ấy phải nhường chỗ cho các phương tiện vận tải có tính năng vượt trội hơn hẵn.

Dẫu đã từng xuôi ngược tận những ngọn nguồn, vui cùng những ngọn hải đăng với cánh hải âu xa tắp, hơn nửa thế kỷ qua, những đoàn ghe bầu phố Hội và các miền quê xứ Quảng đã vắng bóng.

Một nhà thơ, từng ngậm ngùi:

“Những chiếc ghe bầu một đời không sinh nở, nằm úp mặt chờ sông…”.

3. Thời gian trước và sau ngày giải phóng, một số nhà nghiên cứu trong và ngoài địa phương đã bước đầu giới thiệu về ghe bầu với mục đích giữ gìn những tri thức dân gian quý báu từ nghề buôn và đóng ghe bầu truyền thống này.

Đến năm 2011, dưới sự bảo trợ của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, một công trình nghiên cứu chuyên sâu về “Ghe bầu trong đời sống văn hóa ở Hội An – Quảng Nam” đã được Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An xuất bản với cái nhìn khá đầy đủ về nguồn gốc, tên gọi, đặc điểm, hình dáng, cấu trúc cũng như vai trò của ghe bầu phố Hội trong đời sống văn hóa địa phương.

Ông Trần Văn An cho biết: “Những năm trước, tại các làng quê sông nước Cửa Đại, Cẩm Thanh, nhiều ngư dân đã phát hiện vào trục vớt một số chiếc ghe bầu hay vài chi tiết cấu trúc của ghe bầu dưới lòng sông Cổ Cò, Thu Bồn. Và thật mừng, hình bóng của những chuyến ghe bầu xưa cũ cũng đã dần dần xuất hiện trở lại trên sông Hoài, phố Hội thông qua một số ghe thuyền được đóng theo mô hình. Thậm chí, một số người vì đam mê hay gia đình có ông bà từng theo nghề buôn bằng ghe bầu thuở trước đã cất công tìm kiếm và mua lại những chiếc ghe bầu, thuyền rớ ở khắp nơi trên xứ Quảng”.

Bảy năm rồi, anh Trần Đại lặn lội từ Cửa Đại, Trung Phường qua chợ Bà rồi ngược lên Câu Lâu tìm mua cho được 3 chiếc ghe bầu cũ với giá gần cả trăm triệu đồng. Có người bảo anh “khùng”. Nhưng khi tiếng đàn ghi ta chiều nào cũng vang vọng trên khúc sông Hoài từ những chiếc ghe bầu phục vụ du khách, người ta mới thấy cái “khùng” của anh đáng phải suy ngẫm. Anh Đại chia sẻ: “Ông ngoại tôi kể, tài sản được chia cho ông bà khi lấy nhau là một chiếc ghe bầu. Những mùa cắm sào bến chợ, tôi vẫn còn nghe tiếng bà ru trong nhịp đưa sóng nước. Chừ tôi mua lại ghe bầu về phục vụ du lịch, mừng là du khách rất thích!”.

Trên khúc sông Hoài gần cầu An Hội, chiều nào bến nước cũng dập dìu thi tứ trong tiếng đàn ghi ta từ ghe bầu, thuyền rớ du lịch của anh Đại. Du khách đến với phố cổ Hội An hôm nay cũng có thể du ngoạn trên sông nước bằng chuyến thuyền buồm do Trung tâm VH-TT Hội An tổ chức.

Trần Đại với chiếc ghe bầu tại sông Hoài- Ảnh: Quốc Hải

Mỗi lần bước xuống ghe bầu, bạn sẽ cảm nhận cái chòng chành của thời gian và cả những dấu ấn khó phai mờ về một thời mở cửa giao lưu buôn bán trên biển Đông của các thế hệ cha ông thuở trước.

Chính những dấu ấn xưa cũ ấy đã và đang làm nên nhiều giá trị của phố. Và với niềm hoài nhớ, người phố Hội chừng còn thổn thức với nhịp điệu rộn ràng của bến xưa phố cũ, nơi mà những chuyến ghe bầu cùng với dòng sông đã chở nặng phù sa bồi đắp nên những làng quê trù mật.

Quốc Hải

Sông nước Hội An

Hệ thống sông ngòi là tiềm năng, thế mạnh để Hội An phát triển du lịch cùng với quần thể kiến trúc khu phố cổ – di sản văn hóa thế giới. Là vùng đệm của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, vùng sông nước ở đây có những nét đặc trưng độc đáo không dễ gì nơi khác có được. Phát huy tiềm năng du lịch này, TP. Hội An bước đầu đã tạo được sản phẩm mới có chất lượng, tạo thế cạnh tranh trong thời gian tới.

Hội An là vùng cửa sông – ven biển, nơi hội tụ các con sông lớn của xứ Quảng, được hình thành bởi hai dòng sông Thu Bồn và Vu Gia hợp lại, thường gọi bằng cái tên chung là sông Thu Bồn. Thành phố Hội An nằm bên bờ Bắc hạ lưu sông Thu Bồn, cách quốc lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 25 km về phía Đông Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km về phía Đông Bắc.

Hội An vừa có đô thị gồm khu phố cổ và các khu đô thị mới; vừa có đồng bằng; vừa có biển, có hải đảo tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào về lâm, thổ, hải sản… Phần lớn diện tích tự nhiên của Hội An được bao bọc bởi hệ thống sông lớn nhỏ, mương lạch chằng chịt và bị chia cắt bởi những bãi, nổng, trảng, dốc, cồn cát; những bàu, đầm, hói, vũng, ao…và những rừng dừa nước ngập mặn.

Sáng sớm trên sông hoài- Ảnh: Đỗ Huấn

Với sự đa dạng về tài nguyên nhân văn và tài nguyên sinh thái, vùng sông nước Hội An rất giàu tiềm năng du lịch, tạo điều kiện thuận lợi để cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân cư. Ông Nguyễn Chí Trung – Giám đốc Trung tâm QLBTDSVH Hội An nhận định: “Hệ thống sông ngòi chằng chịt tạo cho Hội An trở thành địa bàn đa dạng về hệ sinh thái và môi trường sống của con người cũng rất phong phú. Trên cơ sở đó cũng tạo cho Hội An sự đa dạng về kinh tế, về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng ở vùng “cửa sông ven biển” đặc thù này. Cùng với quá trình bảo tồn, giá trị văn hóa và cảnh quan sông nước vẫn còn khá nguyên vẹn mà như các nhà du lịch học cho rằng: hiếm ở đâu như Hội An với diện tích chỉ khoảng 60km2 mà có đầy đủ các yếu tố của du lịch sinh thái, văn hóa”.

Quả đúng vậy, không ở đâu mà dọc theo con nước từ thượng nguồn đổ về lại có nhiều tên đất, tên làng nổi tiếng như vậy. Một làng gốm Thanh Hà với những con người biết gọi hồn, chắp cánh cho đất. Một làng mộc Kim Bồng với những nghệ nhân biết hóa thân trong từng đường chạm trỗ, thể hiện tài hoa sáng tạo. Bỏ quá khu phố cổ-di sản văn hóa thế giới một chút thì có làng ẩm thực dân dã, khoái khẩu: hến trộn, bánh tráng đập và bắp nấu – Cẩm Nam. Rời xa khu di sản phố cổ náo nhiệt, lung linh đèn lồng rực sắc là đến các làng quê sinh thái đầy sắc màu thiên nhiên, bình yên, hoang sơ không chỉ của thành phố mà còn ở các vùng lân cận như Trà Nhiêu (Duy Xuyên), Triêm Tây (Điện Bàn)…

Trong những năm gần đây, loại hình du thuyền trên sông Hoài phát triển tương đối mạnh nhờ nhu cầu của du khách tăng cao. Du khách trong nước rất ưa chuộng loại hình du lịch này, nhất là vào mùa hè. Du thuyền trên sông Hoài, du khách có dịp cảm nhận đầy đủ vẻ đẹp hiếm có của vùng đất và con người vùng “cửa sông – ven biển” Cửa Đại. Cảm giác thích thú của du khách là được ngồi trên thuyền chầm chậm trôi để tận hưởng những làn gió mát lành phả lên từ mặt sông mang theo vị lợ lợ của vùng nước ngập mặn, rồi phóng tầm mắt ngắm nhìn những làng quê êm ả, rợp bóng cây xanh với những bến bờ luôn rộn rã tiếng nói cười. Những vị khách đa cảm, hay hoài niệm dễ bắt gặp dọc theo con nước ven sông ký ức của một thời thơ trẻ với cảnh các mẹ, các chị và lũ trẻ ra sông giặt giũ, tắm táp, nghịch nước buổi trưa hè… Dừng lại một bến bờ nào đó, du khách có thể thả câu, quăng lưới, bủa rập tìm một ít cá, tôm, cua… làm mồi chuẩn bị cho bữa nhậu trên sóng nước bập bềnh. Không có tay “sát ngư” thì ghé vào một chồ rớ hay cập vào chiếc thuyền đánh cá của những người dân chài dọc triền sông để mua lại một ít thuỷ sản tươi sống mà họ vừa đánh bắt được. Xuôi theo dòng, càng đến gần Cửa Đại càng nghe rõ hơn tiếng sóng rì rầm vọng về từ biển và càng thấy tâm hồn lộng gió khơi xa. Bóng dáng cụm đảo Cù Lao Chàm cũng từ đó hiển lộ, thấp thoáng ngoài khơi:

“Non sông ai dựng ai làm

Sông Thu Bồn uốn khúc, Cù Lao Chàm xanh um”.

Đó cũng là lúc thuyền đang đi vào rừng dừa nước ngập mặn và cỏ biển của hạ lưu sông Thu Bồn. Thạc sĩ Lê Ngọc Thảo – Thư ký Ban quản lý Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An cho biết giá trị đặc trưng của rừng dừa ngập mặn này:“Sự hiện diện của rừng dừa nước thể hiện được các chức năng của một khu rừng đệm trước khi đổ ra vùng bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Bên dưới các gốc dừa là nơi sinh sản, sinh trưởng, cư ngụ, lưu trú và bảo tồn các nguồn gen của các loài thủy sản. Bên cạnh đó sự hiện diện của rừng dừa nước là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái.”

Rừng dừa nước ngập mặn vùng hạ lưu sông Thu Bồn chủ yếu thuộc xã Cẩm Thanh. Dừa nước mọc ven bờ các sông lạch, quanh năm xanh tốt, tạo nơi này có một sinh cảnh rất đặc biệt cho Hội An. Rừng dừa nước Cẩm Thanh còn là di tích lịch sử nổi tiếng, gắn liền với những chiến công hiển hách trong 2 cuộc kháng chiến chống xâm lược của quân và dân Hội An, là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

Kết quả nghiên cứu của Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm thời gian qua còn cho biết, hệ sinh thái vùng ngập mặn Cửa Đại thu hút sự quan tâm đặc biệt của các du khách đến từ Châu Âu, nhất là các nhà nghiên cứu sinh vật, môi trường và thiên nhiên bởi tính đa dạng và hiếm lạ sinh học nhưng mức độ khám phá, quảng bá chưa thật nhiều như mong muốn để kết hợp phục vụ tham quan du lịch.

Vùng cửa sông ven biển nhìn ra Cù Lao Chàm- Ảnh: Đỗ Huấn

Thời gian qua, UBND thành phố đã có chủ trương cho phép một số đơn vị được tổ chức các loại hình du lịch sông nước như: bơi thuyền kayak, đi thuyền dã ngoại, tổ chức liên hoan, tiệc buffet trên sông… Song nhìn chung, sản phẩm vẫn chưa thật phong phú, thiếu hụt những trải nghiệm, khám phá các giá trị văn hoá làng nghề truyền thống độc đáo.

Trung tâm VHTT Hội An đã đưa vào hoạt động thử nghiệm tour “Du ngoạn trên sông Hoài”. Tùy ý thích chọn, có tour trên thuyền cổ, trong không gian “đêm phố cổ” với vẻ đẹp thơ mộng, lung linh sắc màu của lồng đèn và hoa đăng, du khách say đắm thả hồn theo điệu hò, câu hát mênh mang sông nước Sông Hoài. Có tour, du khách được khám phá các giá trị văn hoá làng nghề truyền thống độc đáo, chiêm ngưỡng những kiệt tác từ bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, trải nghiệm các công đoạn chuốt gốm, chạm khắc gỗ, dệt chiếu, vãi chài… cùng cư dân địa phương qua các chương trình du thuyền tham quan các làng nghề truyền thống vào ban ngày.

Vừa qua, UBND TP.Hội An đã chính thức giao Phòng Thương mại – du lịch thành phố lập “Đề án khai thác tuyến sinh thái sông nước – cồn nổi gắn với phát triển làng nghề truyền thống Hội An” để sớm triển khai thực hiện. Đề án được lập hướng đến mục đích phát huy thế mạnh, tiềm năng du lịch sông nước Hội An nằm trong kế hoạch phát triển du lịch thành phố đến năm 2020.

Thực hiện đề án này, du lịch Hội An sẽ tạo  thế cạnh tranh mới, mở ra cơ hội phát triển đa dạng mà ở những điểm du lịch khác không dễ gì có được.

Đỗ Huấn

Công đầu của dân

Hội An thường được nhiều người gọi là “thành phố của những danh hiệu”. Có được niềm vinh dự đó là cả chặng đường nỗ lực không ngừng nghỉ mà công đầu thuộc về nhân dân; đồng thời cũng đặt ra cho chính quyền và cộng đồng dân cư trách nhiệm giữ gìn, vun đắp bền lâu…

Đầu năm nay, TP.Hội An tiếp tục được độc giả CNN bình chọn vào vị trí thứ 4 trong 10 điểm đến lãng mạn nhất thế giới.Đây không phải là danh hiệu lần đầu Hội An được bầu chọn mà là sự kế thừa, tiếp nối từ nhiều năm trước, thể hiện uy tín của điểm đến du lịch và chất lượng cuộc sống con người ở thành phố “thương cảng cổ” này.

Chỉ riêng trong năm 2014, Hội An đã nhận khoảng 10 danh hiệu tôn vinh và giải thưởng du lịch khác nhau. Cụ thể, tạp chí Indiatimes của Ấn Độ tôn vinh là một trong những thành phố lãng mạn nhất, trang thông tin chuyên về du lịch Price of Travel bình chọn top 30 thành phố châu Á có chi phí rẻ nhất dành cho du lịch “bụi”, trang website du lịch nổi tiếng Rough Guidesbầu chọn bãi biển Cửa Đại và bãi biển Cẩm An Hội An vào top 20 bãi biển đẹp nhất Việt Nam, trang thông tin du lịch quốc tế Touropia chọnlà 1 trong 10 điểm đến níu chân du khách ở Việt Nam,  đứng vị trí thứ 4 trong top 10 dòng kênh nổi tiếng thế giới, trangwebsite du lịch nổi tiếng Rough Guides chọn nằm trong top 20 địa điểm thú vị để tận hưởng cuộc sống về đêm, báo Huffingtonpost chọn  vào danh sách 50 thành phố bạn phải đến thăm trong đời, trang web đặt phòng khách sạn hàng đầu thế giới – Agoda bầu vàotop 10 địa điểm có khách sạn tốt nhất thế giớivà những chuyên gia du lịch của Luxeinacity lại bầu Hội An vào  top 10 điểm đến lãng mạn nhất để “hẹn hò” ở châu Á.

Người dân Trà Quế hướng dẫn du khách trồng rau

Ông Nguyễn Sự – Nguyên Bí thư Thành ủy,  Chủ tịch HĐND thành phố nói: “Có được “tiếng thơm” ấy là nhờ những nỗ lực vượt bậc của cộng đồng cư dân. Họ luôn đồng hành cùng di sản quê hương để tái hiện, sáng tạo nên những sản phẩm du lịch – dịch vụ mới, đạt chất lượng để lôi cuốn và níu kéo bước chân du khách”.

Không chỉ có các sản phẩm đã trở thành nét văn hoá đặc sắc của du lịch Hội An như “Đêm phố cổ”, các lễ hội văn hoá dân gian, các sự kiện du lịch kết hợp phát huy giá trị văn hoá truyền thống với đương đại mà Hội An còn được đánh giá là một nơi luôn biết tự làm mới, tạo khởi sắc liên tục cho các sản phẩm du lịch. Các tour tham quan làng nghề truyền thống: gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng, rau Trà Quế được các nhà quản lý, các ngành chức năng “bắt tay” chặt chẽ với cộng đồng cư dân để không ngừng nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách. Bà Nguyễn Thị Nhung (Phó Giám đốc Trung tâm VHTT, phụ trách Văn phòng Hướng dẫn tham quan Hội An) cho biết. “Cảnh quan xanh sạch hài hoà, giá trị văn hoá của tập tục nếp sống nghề trong từng gia đình, lễ cúng tổ nghề… từng bước phục hồi và phát huy là những chuyển biến rõ nét của làng gốm Thanh Hà thời gian qua, mà ở đó không có sự giúp sức của người dân thì chúng tôi không thể nào làm được”.

Đến Hội An, nhiều du khách nước ngoài tỏ ra hài lòng và thích thú khi được đi giữa lòng phố cổ. Theo họ, “Phố đi bộ”, “Phố không có tiếng động cơ” là nét mới khó lẫn vào đâu được trên đất nước Việt Nam, đem lại cho họ cảm giác bình an, thanh thản. Được như vậy, “công đầu” thuộc về những chủ nhân của khu phố cổ. Những việc làm thiết thực, hành động cụ thể như: “nói không với túi nilon”, xây dựng “thành phố du lịch không khói thuốc lá”, tăng cường trồng cây xanh tạo cảnh quan, thực hiện “ngày không khói xe” thời gian qua đã góp phần làm nên “tiếng thơm” cho Hội An cũng nhờ “vạn lần dân liệu” mới nên.

Lãnh đạo Hội An luôn tâm niệm một điều rằng cần làm “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” bằng những sản phẩm khác biệt, không trùng lặp với nơi khác. Cùng với di sản phố cổ, Hội An đã và đang tập trung phát triển mạnh du lịch biển đảo (đặc biệt chú trọng du lịch ở Cù Lao Chàm), mở rộng không gian về vùng ngoại ô như Cẩm Thanh, Cẩm Châu… với những dịch vụ khám phá làng quê, sông nước cùng hệ sinh thái đa dạng, đặc sắc… Du khách quốc tế, nhất là khách từ các nước công nghiệp phát triển rất thích thú khi được tham quan, trải nghiệm cuộc sống dân dã, đời thường của người nông dân với con trâu, mảnh ruộng, cái cày hoặc của bà con ngư dân để được lắc thúng, bơi thuyền, câu cá, bắt tôm… Văn minh thương mại cũng được chú trọng đề cao, trở thành một cuộc vận động thường xuyên liên tục. Hiện tượng “chặt chém” đối với du khách rải rác, lẻ tẻ vẫn xảy ra nhưng hễ phát hiện là “dẹp” ngay bằng những biện pháp “mạnh tay”.

Ông Nguyễn Sự – Nguyên Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND thành phố từng nói rằng, Hội An không chủ quan và “sống nhờ” những danh hiệu, giải thưởng nhưng những cuộc bầu chọn của số đông độc giả, bạn bè qua báo chí, các kênh thông tấn, tức là những du khách thực thụ đã đi, đã đến với Hội An là rất đáng trân trọng, cho thấy Hội An đang đi đúng hướng và giúp chính quyền biết cách điều chỉnh sao cho phù hợp, sao cho đẹp lòng khách phương xa.

Đỗ Huấn

Lòng yêu nghề của những thợ khai thác Yến ở Cù Lao Chàm

Trong rất nhiều quà tặng của thiên nhiên dành cho Hội An thì Cù Lao Chàmlà một đặc ân lớn. Giữa trùng khơi ấy chính là xứ xở của chim Yến – Loài chim làm những chiếc tổ bằng nước bọt thế nhưngtrở thành một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng và kinh tế rất cao.   

Song để có được sản phẩm quý này, những người thợ khai thác Yến đã phải lao động nhọc nhằn, công phu, thường đối mặt với hiểm nguy. Với lòng yêu nghề, họ vẫn luôn gắn bó với công việc, dù nhiều lúc mạo hiểm.

Vượt qua 11 hải lý vớihơn 1 tiếng rưỡi đồng hồ, con tàu đưa những người thợ khai thác Yến đã cập đảo Cù Lao Chàm. Sương sớm chưa tan, hang yến hiện ra sâu hoắm giữa các vách đá Granitc lớn, dựng đứng. Chim Yến thường làm tổ, đẻ trứng ở những vị trí cheo leo, hiểm trở, tránh sóng biển, gió lùa. Vì vậy, để khai thác, đội thợ phải dựng một giàn tre. Trong diện tích nhỏ hẹp, nhiều ngóc ngách, thợ khai thác Yến vừa phải dùng sức lực, vừa phải quan sát, dự tính chiều dài từng cây tre để tạo kích thước phù hợp cho khung giàn. Những cây tre già, nặng trĩu được nâng bổng, đưa vào hang. Tre đưa lên tới đâu, anh em phối hợp ráp nối, cột chặt giàn tới đó. Ở nhiều vị trí, người làm giàn phải đu mình một cách khéo léo và mạo hiểm, bám vào các thân tre khác hoặc áp sát người vào vách đá mới có thể buộc giàn… Một bộ khung giàn đặc biệt được hình thành, chông chênh trong một địa thế hiểm trở. Những người thợ khai thác yến sẽ men theo giàn thang ấy để gỡ tổ. Vì vậy, việc làm một giàn thang đúng kỹ thuật luôn là yêu cầu cao nhất trong quy trình khai thác. Ông  Nguyễn Văn Sơn-Thợ khai thác yến Cù Lao Chàm, Hội An cho biết: “Phải làm giàn ri mới lấy yến được. Và cái vật liệu của cái thang  phải là tre và mây thôi. Vì cây tre mình làm theo ý muốn của mình là vô những ngóc ngách khó hoặc là mình uốn cong theo chiều đá được; còn thí dụ mấy vật liệu khác như sắt, gỗ thì không theo ý muốn mình được”. Cònông Trần Thế Giới – Thợ khai thác yến Cù lao Chàm,  Hội An cho hay:“Chúng tôi làm phải từng li, từng chút, làm phải cẩn thận. Nói chung là đâu tới đó, làm lên tới đấy luôn. Nói chung tôi cũng sống nhiều năm rồi. Tất cả đội chúng tôi phải làm rất kỹ. Bởi vì lỡ mà sơ hở một chút, toàn bộ cái giàn ni sẽ dẫn đến tai nạn cho nên phải làm rất kỹ, từng li từng chút luôn”

Khai thác Yến ở các vị trí cheo leo, mạo hiểm

Ở vị trí áp sát với mặt trong của hang sâu, thợ khai thác phải cẩn thận từng động tác để đảm bảo an toàn và không bị dập vỡ tổ và trứng yến, suy giảm chất lượng. Đối với những tổ yến khó gỡ, người thợ phải phun nước vào vách đá, dùng nỉa bóc gỡ. Ở các địa điểm không thể tiếp cận bằng giàn thang, người thợ phải dùng sào dài, gắn với các dụng cụ cần thiết để chọc vớt. Tại nhiều hang nhỏ hẹp, đường vào không thuận lợi, thợ khai thác phải dùng dây thừng làm ròng rọc hoặc bắc thang bên sườn núi mới có thể vào bên trong. Những hang yến này thường thiếu ánh sáng và rất trơn trượt, ẩm ướt do phân chim và rêu bám phủ, đáy hang sâu hoắm, có nhiều ghềnh đá. Chỉ cần sơ sẩy một chút, tính mạng người thợ sẽ gặp nguy hiểm. Thực tế, để lấy được tổ, thợ khai thác phải treo mình trên mấy chục mét cao, có khi phải thòng dây đu xuống lòng hang hoặc nằm vắt vẻo trên thân tre, lách mình qua các khe hẹp dựng đứng.Ông Nguyễn Văn Liêm, thợ Khai thác Yến thành phố Hội An, nói:“Có những cái mà phải đảm bảo cho tính mạng con người. Mà trong việc khai thác yến phải làm sao để lấy toàn bộ tổ yến được nguyên si, để giữ giá trị rất là cao. Thời gian khai thác rất là lâu, rất là kỳ công. Để vừa đảm bảo chất lượng và vừa tính mạng con người nên chúng tôi phải từ từ và đồng thời làm cái gì chắc cái nấy”.

Tối, hẹp, ẩm ướt, trơn trượt, ngột ngạt, nồng nặc bởi lượng phân chim đọng lại lâu ngày –  Đó là hình ảnh thường thấy ở tất cả hang yến. Nhiều khe, người thợ phải sử dụng đèn chiếu sáng mới có thể thấy đường vào khai thác. Nhọc nhằn, gian khó, hiểm nguy nhưng lòng yêu nghề đã giúp đội thợ hoàn thành nhiệm vụ. Trong số các anh, người nhiều nhất đã vài ba chục năm gắn bó với nghề. Sau hai mùa khai thác, các anh ở đảo canh giữ, bảo vệ hang yến, kể cả khi mưa gió, giá rét hoặc lễ, tết, đề phòng kẻ xấu xâm nhập trộm cắp, dẫn dụ hoặc phá hoại đàn Yến. Ở đây, anh em luôn phải tiết kiệm nhu yếu phẩm, nước ngọt, xăng dầu, tự bão trì các thiết bị máy móc. Cách trở biển cả, những khi bão to sóng lớn liên hồi, họ có thể bị cô lập hoàn toàn. Ông Lê Bình- Đội trưởng Đội Quản lý và Khai thác Yến thành phố Hội An cho biết: “Công tác quản lý bảo vệ Yến của chúng tôi hết sức nghiêm ngặt. Muốn bảo vệ tốt đàn chim cũng như là có sự phát triển đàn chim con thì thứ nhất, hàng năm chúng tôi sẽ dưỡng chim một kỳ. Kỳ thứ nhất, khi chúng đẻ khoảng 50% là chúng tôi khai thác. Kỳ hai là chúng tôi để trứng ấp nở ra chim con. Khi chim con bay hết rồi thì chúng tôi bắt đầu khai thác. Như vậy là chúng tôi có được một lượng chim con rất lớn. Chúng tôi dự tính với số lượng chim con đó, khi nó ấp nở, khi nó đủ sức hoạt động chống chọi với thiên nhiên, ảnh hưởng khí hậu thời tiết thì nó sống và nó sẽ tiếp tục sinh sản cỡ chừng ba  đến bốn mươi phần trăm”

Những năm gần đây, thành phố Hội An đang từng bước đa dạng hóa hình thức tiêu thụ yến sào. Ngoài việc quảng bá, thành phố đã mở 3 điểm bán lẻ Yến sào và duy trì mối quan hệ với các khách hàng truyền thống để bán lẻ các sản phẩm đã qua tinh chế. Thông qua liên kết với các doanh nghiệp lữ hành, du lịch dịch vụ, địa phương đưa sản phẩm yến sào vào các chương trình dịch vụ ẩm thực hoặc giới tại các sự kiện, lễ hội văn hóa, du lịch. Vừa mới đây, Đội khai thác yến thành phố Hội An đã hoàn thành việc khai thác yến sào vụ 1 năm 2015, với sản lượng đạt hơn 700 kg tổ yến. Do chỉ khai thác 2 vụ nên tổ yến to, dày, đồng đều, đạt chất lượng cao, với nhiềuloại như yến giá trị như Hồng Huyết, Yến Quan, Thiên, Bài, Mảnh, Chân, yến Địa… Hiện nay, địa phương đang đẩy mạnh cải tiến mẫu mã, bao bì và đa dạng sản phẩm chế biến từ tổ yến để phục vụ nhu cầu của khách hàng. Phấn đấu từ nay đến cuối năm 2017, Hội An sẽ hình thành hoàn chỉnh hệ thống cửa hàng bán lẻ, nhà hàng liên kết giữa đại lý phân phối và người tiêu dùng, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, cải tiến một số công nghệ trong chế biến, bảo quản để phục vụ nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước. Ông Đinh Hùng, Trưởng phòng Tài chính thành phố Hội An cho hay:“Nguồn thu từ yến sào có ý nghĩa rất quan trọng đối với thành phố, đảm bảo nguồn chi thường xuyên, chi cho đầu tư phát triển, rồi trùng tu di tích, hạ tầng cơ sở khu phố cổ và đặc biệt là đầu tư lại cho xã đảo Tân Hiệp. Cơ chế của tỉnh đối với nguồn thu yến sào là để lại 100% cho ngân sách thành phố”.

 Là chủ nhân của nguồn thực phẩm giá trị này, nhiều năm qua, Hội An luôn chú trọng các biện pháp quản lý, bảo vệ, tích lũy kinh nghiệm chăm sóc chim, khai thác tổ của tiền nhân. Các hang đều được bảo vệ quanh năm, kể cả khi lễ tết hay trời mưa gió, giá rét. Các khe nứt trên vách đá được bịt kín, tránh dột nước ướt tổ, ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng.

Khéo khen cho ai đã gọi cái tên “Vàng trắng” để nói về giá trị của tổ Yến sào Cù Lao Chàm, Hội An. Mỗi ngày loài chim đáng thương, đáng quý này đang cần mẫn kết tinh một phần máu thịt của mình để đem đến những sản phẩm quý giá, bổ dưỡng. Và trong hành trình chăm sóc, bảo vệ và khai thác yến sào, những người thợ say mê loài chim này đã không ngại gian khó, hiểm nguy, lặng thầm góp sức làm đẹp giàu cho vùng đất Hội An nói riêng và xứ Quảng nói chung .

Lê Hiền 



Đài Truyền Thanh Phường Hội An

Giấy phép trang TTĐT: Số 09/GP-Sở TTTT do Sở Thông tin &Truyền thông tỉnh Quảng Nam cấp ngày 25/12/2014

Số 01 A Hoàng Diệu - TP Hội An - Quảng Nam

ĐT: 0235 3861213 - Email: daittthhoian@gmail.com

Bản quyền thuộc về Đài Truyền thanh Phường Hội An. Các website khác đã được chúng tôi đồng ý cho khai thác thông tin, khi đăng lại phải ghi rõ nguồn: Theo Đài TT-TH Hội An (http://hoianrt.vn)

Thiết kế bởi: Đài Truyền thanh phường Hội An.