Hội An với chữ Quốc ngữ

Để có được chỗ đứng trong nền lịch sử nước nhà, chữ Quốc ngữ đã trải qua một quá trình dài hình thành và phát triển. Trong tiến trình đầy kỳ diệu đó, Hội An xuất hiện như một cầu nối kỳ lạ.

Cách đây hơn 100 năm, cụ thể là năm 1919 (ngày 28/12/1918, tức ngày mồng 4 tháng 11 năm Khải Định thứ 3), vua Khải Định đã ban Dụ số 123 về việc bãi phép khoa cử Hán học. Từ đó, chữ Quốc ngữ được công nhận và sử dụng, từng bước thể hiện vai trò của mình.

Để có được chỗ đứng như vậy trong nền lịch sử nước nhà, chữ Quốc ngữ đã trải qua một quá trình dài hình thành và phát triển. Trong tiến trình đầy kỳ diệu đó, Hội An xuất hiện như một cầu nối kỳ lạ và định mệnh.

Đầu thế kỷ XVI, Hội An đã là một cảng thị lớn của xứ Đàng Trong. Hàng hóa từ các nước thường xuyên ra vào, giao thương tại cảng thị này. Trong đó có thương thuyền từ các nước Châu Âu như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,… cũng như các thuyền buôn từ Nhật, Trung Hoa và các nước từ vùng Ấn Độ Dương. Đi kèm với quá trình giao thương buôn bán, là hoạt động truyền giáo từ các giáo phái phương Tây: Dòng Tên từ Bồ Đào Nha, các linh mục Thiên chúa giáo từ Tây Ban Nha…

Mô hình Châu Ấn thuyền được trưng bày tại Hội An – Ảnh: Thế Phương

Từ năm 1592, khi Mạc phủ quyết định thực thi chính sách Shuin-sen (Châu Ấn thuyền) thì quan hệ mậu dịch đường biển của thương gia Nhật tại Đông Nam Á được mở rộng và sôi nổi hẳn lên. Đó cũng là thời kỳ đỉnh cao của thương cảng Hội An cùng mối giao thương với Nhật Bản. Sự tập trung đông đúc thương nhân Nhật tại thương cảng Hội An là điều kiện để các giáo sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha có cơ hội mở rộng hoạt động truyền giáo. Nhưng rào cản ngôn ngữ buộc các giáo sĩ Bồ Đào Nha phải nhờ đến sự thông dịch của người Nhật trong quá trình thuyết giáo, cũng như nhu cầu phải tạo ra ngôn ngữ để giao tiếp với người bản địa và người Nhật.

Giáo sĩ Francisco de Pina (1585-1625) – Ảnh: Nguồn Internet

Chính những điều đó tạo cho Hội An như một trong những địa điểm đầu tiên chứng kiến quá trình phôi thai nên chữ Quốc ngữ. Từ những năm đầu thế kỷ XVII (khoảng từ năm 1622), nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, Francisco de Pina, trong quá trình truyền giáo của mình đã nhận thấy rào cản to lớn về ngôn ngữ, bằng sự sáng tạo trên cơ sở quan sát và tiếp thu ngôn ngữ của người Việt tại Hội An đã ghi chép và La tinh hóa ngôn ngữ bản địa tại Hội An. Sau đó, giáo sĩ Alexandre de Rhodes tiếp tục kế thừa và hoàn chỉnh một cách hệ thống dẫn đến sự xuất hiện chính thức của chữ Quốc ngữ. Đó chính là thời kỳ sơ khai của chữ Quốc ngữ mà hiện nay chúng ta đang sử dụng. Sau khi đã hoàn thành việc La tinh hóa và sử dụng thành thạo loại ngôn ngữ này (tiền thân của chữ Quốc ngữ), các vị giáo sĩ trên đã sử dụng như công cụ để truyền giáo và tiếp tục dạy cho các nhà truyền giáo cũng như cư dân bản địa loại ngôn ngữ này.

Để rồi từ đó, loại ngôn ngữ được viết từ sự La tinh hóa ngôn ngữ bản địa tại Hội An được sử dụng rộng rãi trong quá trình truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây, được người dân Hội An và vùng lân cận tiếp thu, cải biến đã từng bước trở thành ngôn ngữ nói và viết phổ biến. Đến thế kỷ XVIII -XIX, loại chữ viết này đã trở nên thông dụng trong cộng đồng người Việt, không chỉ ở Đàng Trong mà còn lan rộng ra Đàng Ngoài.

Quả thật, nhìn lại chiều dài hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ, để thấy rằng: Trong tổng thể không gian và bối cảnh lịch sử như vậy, mới thấy hết vai trò và vị thế của thương cảng Hội An trong quá trình sáng tạo nên chữ Quốc ngữ. Vùng đất này với sự tồn tại phong phú của nhiều ngôn ngữ khác nhau (tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha, Ý,…) bên cạnh tiếng Việt của người bản địa đã trở thành động lực quan trọng giúp các linh mục Bồ Đào Nha phải tạo ra thứ chữ viết thống nhất nếu muốn công cuộc truyền giáo được hiệu quả. Cùng với đó, sự thông minh, sáng tạo và nhanh nhạy thích ứng của cộng đồng người Việt tại Hội An đã thúc đẩy quá trình hình thành chữ Quốc ngữ tại vùng đất này.

Thư pháp chữ Quốc ngữ ngày nay – Ảnh: Nguồn Internet

Trong tiến trình lịch sử lâu dài ấy, Hội An được xem là một trong những địa điểm đầu tiên ở Việt Nam đóng vai trò đặt nền tảng và có ảnh hưởng quan trọng đến sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Chính điều này đã một lần nữa cho thấy vị trí của Hội An trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa một cách đầy tinh tế và uyển chuyển trong dòng chảy lịch sử trước đây và kế tục đến hôm nay.

Thế Phương