Bảo tồn nghệ thuật hô hát bài chòi là một diễn trình liên tục bổ sung nguồn nhân lực hô hát và việc tổ chức trò diễn trong thời gian qua đã thực sự mở ra vận hội để Hội An xứng đáng là một địa phương bảo tồn và phát huy tốt nhất nghệ thuật bài chòi của tỉnh Quảng Nam.

Bảo tồn bài chòi là một diễn trình liên tục bổ sung nguồn nhân lực- Ảnh: Quốc Hải
Trong Liên hoan hô hát bài chòi toàn thành phố Hội An năm 2019, nhiều đơn vị cơ sở như đội hô hát bài chòi phường Cửa Đại, phường Cẩm Châu, xã Cẩm Hà,… đoạt giải cao vì ngoài các diễn viên hô hát có chất giọng, có kỹ thuật hô hát tốt các làn điệu bài chòi thì phần thi hô hát đơn, hô hát đôi – giao đãi giữa đôi nam nữ của các đơn vị này có nội dung “ứng diễn” đã được chuẩn bị tốt.
Lời hô hát các quân bài đã được đặt lời mới trên cơ sở nguồn tư liệu văn hóa dân gian xứ Quảng, vừa kế thừa được những tinh hoa văn học dân gian, gần gụi với lời ăn, tiếng nói của người bình dân, vừa đề cập được những sự vụ, sự việc gắn với đời sống thường ngày tại địa phương mình. Đúng như nhận xét của Ban tổ chức: “Điều đáng ghi nhận trước hết là về mặt tổ chức nội dung, nhiều đơn vị đã chuẩn bị lời mới có chất lượng văn học tốt, ca từ trau chuốt, giàu sức biểu hiện ý nghĩa, gắn với cuộc sống thực tế đời sống văn hóa – xã hội của địa phương như Cẩm Châu, Cẩm Thanh, Cẩm Hà, Cửa Đại hoặc gắn với di sản Đô thị cổ như Cẩm Phô, Cẩm An, Tân Hiệp, Cẩm Kim,…”

Hội thi hô hát bài chòi diễn ra ở các xã – phường– Ảnh: Quốc Hải
Trước yêu cầu bài chòi phải luôn được làm mới, chúng ta cùng suy ngẫm về vấn đề này, thử trả lời câu hỏi vì sao phải như vậy ?
Như mọi trò chơi may, rủi thông dụng: đổ xăm hường, bài tới, lô tô,… bài chòi trước hết là trò chơi, bởi cả ba quân bài trong tay người chơi đều tùy thuộc vào sự may, rủi của quân bài mà anh hiệu rút ra từ ống bài nọc/ bài cái chứa 30 quân ( vị chi một ván bài có 10 người chơi ). Như vậy, kể cả khi không có hô hát thì bài chòi đã có sự hấp dẫn vì người chơi thích thú khi được chờ đợi sự may, rủi hay niềm khoái cảm chờ đợi hên xui. Thứ đến, khi bài chòi được hô hát lên thì trò chơi đã được nâng lên thành nghệ thuật diễn xướng, tên mỗi quân bài đã được văn học hóa, âm nhạc hóa, ký hiệu hóa như hình thức câu đố chờ được người nghe giải mã. Đúng như câu hát: “Bài chòi vừa hát vừa hô, vừa nghe thơ phú vừa chờ hên xui”.
Khi nghe câu hô “một anh để em ra, hai anh để em ra,… em về em đi buôn đi bán, em trả nợ bánh tráng, em trả nợ bánh xèo, còn dư em trả nợ thịt heo chớ em không cam chịu,…” thì người nghe đã nắm bắt được các “tín hiệu”, sự biểu nghĩa về gia cảnh của đôi vợ chồng này để ước đoán… chắc chắn là bài ra con “nhì nghèo”. Tương tự, khi anh hiệu than: “Tui có con vợ chẳng biết lo, sáng mai ngủ dậy hắn ra hắn đo mặt trời” thì liệu đoán ngay là con “ngủ trưa”. Tính chất “nêu câu đố” và chờ “giải đố” luôn tạo nên niềm khoái cảm chờ đợi, niềm khoái cảm suy đoán của người nghe trong việc hô hát bài chòi.

Hội An xứng đáng là địa phương bảo tồn và phát huy tốt nhất nghệ thuật bài chòi của tỉnh Quảng Nam– Ảnh: Quốc Hải
Tính chất trò chơi ngôn từ này có thể có gốc gác từ các câu đố, câu hát đố. Có thể thấy rất nhiều ví dụ như “Ba mươi con nhốt một lồng, mười con có mồng, hai mươi con không có” với đáp án là “ba mươi ngày trong tháng”,… Ở câu đố, người ra câu đố cung cấp cho người chơi những “dữ liệu” ngôn từ mang tính biểu nghĩa, rồi dựa trên những “dữ liệu” ,”cứ liệu” ấy, người giải đố mới xét đoán ý nghĩa câu đố, tìm ra lời giải. Ngoài những quy ước biểu nghĩa của ngôn từ thông thường còn có những quy ước riêng trong cách cảm, cách hiểu của riêng cộng đồng cư dân bản địa. Chẳng hạn như, khi nghe câu đố này, nếu không phải là người Quảng Nam quen với việc “nói lái” thì khó có câu trả lời chính xác. Câu đố về hoa quả như sau: “Hít ra, hít vô, hít một”, câu trả lời là “hột mít” hay câu “Nực cười cho chị Hồng Mai, một mình mà có tới hai cái mồng” (hai mồng là hồng mai).
Tính trò chơi ngôn từ của hô thai, hô bài chòi còn hấp dẫn bởi sự “giải biểu nghĩa” của những nghĩa “khuôn định”, tức là những nghĩa đã quen thuộc bởi cùng một quân bài nhưng mỗi lần hô nếu là anh/chị hiệu có tài giao đãi, ứng tác sẽ cung cấp cho người chơi một bài bản mới.
Chẳng hạn như lời hô con “tứ cẳng” quen thuộc ở Hội An: “Lấy chồng từ thuở mười lăm, chồng chê tôi bé không nằm với tôi, bây giờ mười chín đôi mươi, tôi có nằm dưới đất chồng cũng lôi lên giường, một anh thương, hai anh thương, anh thương chi hung rứa bốn cẳng giường “rung rinh”´(dị bản: còn ba). Ở Quế Sơn, chị hiệu hô “Anh nói không thương, chị nói chẳng ưa, chỉ riêng tôi biết cả hai nói giả đò, chứ tối hôm qua tôi đi ra gò, tôi thấy anh thương chị bốn cái giò nó tréo ngoe”,…
Câu hô bài chòi từ hình thức câu lục bát, rồi đến lục bát biến thể, tiến đến thâu thái cả song thất lục bát, thơ bốn câu, thơ năm câu, lối nói lối tự do dài hơi, các làn điệu dân ca,… khiến cho không những bài hô từng quân bài đòi hỏi phải mới mà kỹ thuật hô hát (thanh nhạc) cũng phải có thêm những “cải cách” tăng sức hấp dẫn với thị hiếu của công chúng, miễn là bảo đảm tính âm nhạc truyền thống của bài chòi (xuân nữ, xàng xê, cố bản, hồ quảng, vè Quảng, lối hô thai,…)
Trò chơi thai đề, hô hát bài chòi, trong ý nghia trò chơi ngôn từ, trò chơi âm nhạc, trò chơi hội họa,… những trò diễn xướng dân gian vẫn có thể “phục dựng” trong cuộc sống hiện tại với các hoạt động văn nghệ ngày tết, trong các cuộc thi tìm hiểu văn hóa cổ truyền như một hình thức “đố vui để học” nếu có sự “dàn dựng” của ngành văn hóa và sự hưởng ứng của cả cộng đồng.
Bảo tồn bài chòi thực tế là một diễn trình liên tục bổ sung nguồn nhân lực hô hát và việc tổ chức trò diễn trong những dịp lễ hội, trong các sự kiện văn hóa xã hội ở các địa phương, Hội thi bài chòi Hội An năm vừa qua, ghi nhận nỗ lực tổ chức đội hình dự thi của các đơn vị, ghi nhận sự thành công về hiệu quả nghệ thuật của hội thi. Thực tế, thông qua việc tổ chức hội thi hô hát bài chòi hàng năm đã thực sự mở ra vận hội để thành phố Hội An xứng đáng là một địa phương bảo tồn và phát huy tốt nhất nghệ thuật bài chòi của tỉnh Quảng Nam và khu vực miền Trung. Từ đó, bổ sung lực lượng hô hát, xây dựng tốt phong trào quần chúng bảo tồn, phát huy bộ môn văn nghệ di sản phi vật thể của cộng đồng./.
Phùng Tấn Đông


